Ho là dấu hiệu của các chứng bệnh gì ?

Thảo luận trong 'Mua Bán Rao Vặt Tổng Hợp' bắt đầu bởi thanhtran, 19/1/16.

  1. thanhtran

    thanhtran New Member

    Ho là một phản ứng của cơ thể, nhằm tống một vài chất bài tiết hoặc dị vật ra ngoài. Ho nhiều làm người bị mắc bệnh mất ngủ, mất sự yên tĩnh của người sống cùng. Ho kéo dài khiến người bệnh lo lắng, nghĩ rằng mình bị mắc một bệnh gì khó trị, phải dễ tới chuyên gia để khám bệnh lý.
    Động tác ho có khả năng do phản xạ hoặc theo ý muốn. trong khi ho, các cơ hô hấp bắt buộc huy động tối đa, khiến cho áp lực trong lồng ngực và đường thở ở mức tăng cao nhất. Độ tăng áp lực giữa khí đạo và không khí ngoài trời với việc đóng mở thanh môn, khiến cho tốc độ ko khí được tống ra ngoài nhanh sắp từ tốc độ của âm thanh, đủ lực để đưa những dị vật ra ngoài. Ho có khả năng có đờm, ho khan, ho từng cơn, hoặc ho húng hắng, ho ông ổng.
    Tìm hiểu các bệnh cách điều trị viêm xoang tại website : khamtaimuihong.org
    [​IMG]
    1.Nguyên nhân ho
    Ho sẽ do các hội chứng của đường hô hấp, nhưng cũng có khi ho vì hội chứng ở ngoài đường hít thở, đó là một số bệnh sau:
    Ho vì viêm họng cấp: Ho có đờm hoặc ho khan, sốt cao, có trùng hợp sốt. Nuốt vướng, có cảm giác rát họng. Họng đỏ, có hạt hoặc có mủ. Amidan có thể sưng
    Viêm thanh quản: Ho khan. kể khàn hoặc mất tiếng. căn bệnh bạch hầu thanh quản tiếng ho ông ổng. Thể trạng nhiễm trùng, nhiễm độc nặng. Có màng trắng ở họng, gây tắc mũi, nhiều lúc bắt buộc mở khí quản.
    Viêm khí quản, phế quản cấp: Sốt cao, giai đoạn đầu ho khan, giai đoạn sau có đờm. Đờm đặc hoặc loãng, màu trắng hoặc vàng. trị liệu sớm dễ mau khỏi.
    Viêm phế quản mạn: phổ biến ở người hút thuốc lá (75%). Ho có rất nhiều đờm, mỗi năm ho khạc 3 tháng, trong vòng hai năm liền. căn bệnh hay tái phát do vài đợt bội nhiễm hoặc tiếp xúc với một số tác nhân gây viêm ví dụ ko khí lạnh, độ ẩm cao, hít bắt buộc hơi độc.
    Tìm hiểu các bệnh cách chữa viêm họng mãn tính tại website : khamtaimuihong.org
    Giãn phế quản: Ho nhiều về buổi sáng, có đa số đờm. Để đờm vào cốc, thấy lắng thành 3 lớp: dưới là mủ, giữa là chất nhày, lớp trên cùng là bọt lẫn dịch. Giãn phế quản có khi ho ra máu. Hay tái phát vì lần bội nhiễm.
    Hen phế quản: hay gặp ở lứa tuổi trẻ em và trung niên. người bệnh không sốt. nghẹt mũi từng cơn, cơn hay gặp về ban đêm, những lúc nghẹt thở thấy tiếng rít cò cử. Sau cơn người bệnh ho và khạc ra nhiều đờm trắng, loãng. Hay bị lại nhiều đợt vì bội nhiễm, những lúc đó thì đờm có màu vàng.
    Ho gà: Gặp ở trẻ em, có sốt. Ho từng cơn, cuối cơn ho có tiếng rít như tiếng rít của gà gáy. Ho nhiều có khả năng vỡ phế nang, gây tràn khí màng phổi.
    Ho vì dị vật đường hô hấp: Ho sặc sụa, mặt tím tái, có tiếng hít thở rít, người ngột ngạt ví dụ như gần chết. lúc dị vật xuống sâu và ổn định thì đỡ ho, đỡ nghẹt mũi. Dị vật có ảnh hưởng viêm nhiễm thì ho có đờm hoặc có máu, ho dai dẳng, sốt cao, nhức ngực.
    Viêm phổi: Sốt cao, rét run, đau ngực, ho có đờm quánh, dính, màu rỉ sắt. Bạch cầu trong máu tăng cao. Chụp Xquang phổi có hình ảnh viêm phổi.
    Lao phổi: Sốt hâm hấp về chiều, người gầy, sút cân, chán ăn. Ho dai dẳng, ra đờm đặc, thậm chí lẫn máu hoặc ho ra máu tươi. Tìm thấy vi sinh vật gây bệnh lao trong đờm.
    Tìm hiểu các bệnh chữa bệnh viêm mũi dị ứng tại website : khamtaimuihong.org
    Áp-xe phổi: Sốt cao, nhức ngực. Ho khan hoặc có đờm. trong lúc ổ áp-xe vỡ thông vào phế quản thì ho ra nhiều đờm như mủ, mùi tanh hoặc vô cùng thối.
    bệnh lý bụi phổi: Gặp ở người tiếp xúc với bụi ở công trường, hầm mỏ, khiến cho đường, công nhân nhà máy dệt, may, xi-măng… người mắc bệnh ho kéo dài, ra đờm màu đen, đục. một vài đợt bội nhiễm thì ho tăng hơn. bệnh kéo dài, tác động đến toàn thân.
    bệnh lý màng phổi: Viêm màng phổi có dịch, ho do màng phổi bị mắc kích thích, ho trong lúc chuyển đổi tư thế.
    Ung thư phế quản: Gặp ở người già, người hút thuốc lá. người bệnh gầy sút nhanh, ăn uống kém, đau ngực, ho ra máu. U chèn ép nhiều có ảnh hưởng nghẹt thở, xẹp phổi. cần bắt buộc chụp Xquang, chụp cắt lớp vi tính lồng ngực để xác định.
    Ho vì các nhân tố tim mạch: Tăng áp lực động mạch phổi, phổi bị mắc ứ huyết, gặp trong các bệnh hẹp van hai lá, tâm phế mạn, suy tim, viêm màng ngoài tim khô hoặc có dịch.
    Áp-xe gan, dưới cơ hoành: gây phản ứng phổi – màng phổi, kích thích màng phổi có ảnh hưởng ho.
    Ngoài ra, khi bà đầu, u xơ tử cung, bệnh lý trào ngược dạ dày, người rối loạn tinh thần… hoặc bị vài bệnh toàn thân kèm viêm đường hô hấp cũng có ho, ví dụ như chứng bệnh cúm, sởi, bạch cầu, thương hàn, rubeol, nhiệt thán, những bệnh lý thuộc phạm vi tai – mũi – họng. Ho còn gặp trong nếu nhiễm không khí nóng hoặc lạnh, hít nên vài hơi độc, hóa chất, thuốc lá gây kích thích niêm mạc đường hô hấp.
    2.Điều trị liệu ho
    Việc quan trọng là buộc phải trị yếu tố, nhưng điều trị hiện trạng ho và làm cho đờm thoát ra ngoài lại vô cùng cần phải có. Thuốc ho đã có nhiều loại: thuốc có công dụng trên trung ương (trung tâm hít thở như: dextromethorphan, mocphin, codein) và những thuốc làm tan đờm, lỏng đờm (tecpin). tuy vậy vài thuốc này cũng có nhiều vai trò phụ hoặc tai biến.
    những thuốc trung ương làm ức chế trung tâm hô hấp, không phải dùng cho người nhiều tuổi, trẻ em, người có viêm phế quản mạn tính, đặc thù là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính người suy hít thở. Thuốc codein không phục vụ người táo bón và thận trọng cho người mắc hen, v.v… Tùy theo từng nếu ho cụ thể mà vài chuyên gia sẽ có quyết định.
    Tóm lại, thuốc ho buộc phải dùng với liều lượng tối thiểu, phải sử dụng đúng liều cho bé, người già, cần phối hợp với điều trị bệnh chính. chú ý không được tự ý dùng một phương pháp tùy tiện, mà buộc phải có sự được chỉ định của bác sĩ.
     

Chia sẻ trang này

Chào mừng các bạn đến với diễn đàn rao vặt Việt Nam. Chúc các bạn có những giây phút thật zui zẻ!